Friday, January 12, 2018

So sánh năng suất kiểu… tào lao

So sánh năng suất kiểu… tào lao

Mấy năm gần đây, năm nào cũng thế cuối năm sẽ thấy một loạt các bài báo giật tít so sánh năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7% năng suất lao động của Singapore, thậm chí còn thua cả Lào. Có năm thì so theo kiểu 18 người Việt làm mới bằng một người Singapore. 

So sánh mang tính cảnh báo để quân bình lại với sự hăm hở kiểu tốc độ tăng GDP của Việt Nam thuộc loại hàng đầu thế giới… cũng cần thiết nhưng năm nào vẫn nói theo khuôn mẫu này hóa ra nhàm và mất tác dụng.

Thử tưởng tượng năm nào Tổng cục Thống kê công bố số liệu GDP rồi từ đó các báo rút tít GDP đầu người của Mỹ hay của Na Uy cao gấp mấy chục lần Việt Nam, năm nào cũng gấp mấy chục lần như thế, cách so sánh như thế liệu có ý nghĩa gì chăng? Dĩ nhiên không ai so sánh kiểu này nên thôi, cũng đừng so sánh năng suất lao động hơn thua bao nhiêu lần nữa.

Trong năng suất lao động điều quan trọng là tốc độ tăng năm nay là bao nhiêu, cao hay thấp so với năm ngoái; tốc độ tăng năng suất như thế so với các nước láng giềng thì sao, so với mức tăng bình quân của khu vực như thế nào; các yếu tố nào tác động mạnh lên năng suất lao động trong năm vừa rồi, có cách nào để năm tới chú ý vào các yếu tố giúp tăng năng suất hơn hay không? Đó là các câu hỏi mà thông tin liên quan đến năng suất lao động phải cung cấp lời giải chứ không phải kiểu so sánh dễ dãi năm nào cũng như năm nào.

Lấy ví dụ từ số liệu của chính Tổng cục Thống kê công bố trên trang web của mình, trong báo cáo tình hình kinh kế - xã hội năm 2014, Tổng cục Thống kê nói “hiện nay năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 1/18 năng suất lao động của Singapore; bằng 1/6 của Malaysia; bằng 1/3 của Thái Lan”. 

Đến báo cáo năm 2017 vừa mới công bố, cơ quan này nói “năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7,0% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan”.

Như thế sao không nói, so với Singapore, năng suất lao động của Việt Nam từ chỗ bằng 1/18 năm 2014 thì ba năm sau còn bằng 1/14. Cũng chính báo cáo cũ của Tổng cục Thống kê cũng từng nói rõ: “Tính theo sức mua tương đương, năng suất lao động của Singapore năm 1994 gấp 29,2 lần năng suất lao động của Việt Nam thì đến năm 2013, khoảng cách này chỉ còn gấp 18 lần”.

So sánh kiểu “Một người Singapore làm bằng 14 người Việt Nam” như một báo khác rút tít cũng dễ gây nhầm lẫn rằng con số Tổng cục Thống kê đưa ra nói lên khả năng làm việc của người lao động Việt Nam nên từ đó thường thấy các nhận xét đi kèm là, đúng rồi, dân Việt Nam nhậu suốt, làm thì lười biếng nên thua là phải. 

Lao động Việt Nam đúng là có nhiều vấn đề như kỷ luật kém, không chịu theo quy trình mà cứ làm theo ý mình, khả năng hợp tác yếu, mạnh ai nấy làm nhưng đó là vấn đề khác; con số đi kèm với năng suất còn gắn với nhiều yếu tố khác nữa.

Lấy ví dụ Đường Tăng sau khi thỉnh kinh về bèn thuê ba người chép kinh để phổ biến. Người đầu tiên cặm cụi chép tay ngày đêm nên rất chậm, nhiều lỗi, năng suất thấp; người thứ nhì dùng máy tính, gõ nhanh, sửa dễ, năng suất cao hơn  nhiều lần và người thứ ba mua cái máy quét hiện đại, bỏ kinh vào bấm nút là toàn bộ nội dung biến thành văn bản trong bộ nhớ muốn in bao nhiêu bản đều dễ dàng. So sánh năng suất ba người này thì cách biệt cả trăm lần nhưng có ai chê trách người chép tay, rằng làm dối, lười biếng vì người thứ ba chỉ bấm bấm vài cái nút rồi đi chơi suốt.

Năng suất lao động các nước như Singapore cao là nhờ đầu tư, đầu tư từ nhiều năm tích gộp lại thành một cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất hiệu quả; cũng là nhờ ứng dụng khoa học, công nghệ; là cách tổ chức dây chuyền sản xuất hay cung ứng dịch vụ tinh vi, hiện đại.

Khi nhìn vào số liệu thống kê thấy năng suất Việt Nam còn thấp, thua xa các nước khác, liệu có ai nghĩ đến những nghịch lý khi một bộ phận lao động ở các doanh nghiệp không làm gì để tạo ra giá trị gia tăng, là tử số của năng suất lao động vì họ phải dùng thời giờ đối phó với sự nhũng nhiễu của bộ máy hành chính, thuế khóa, thanh tra, kiểm tra. Liệu có ai nghĩ đến năng suất nông nghiệp  thấp vì sản xuất manh múm, không thể tích tụ ruộng đất để tăng quy mô. Liệu có ai nhớ đến tình cảnh kẹt xe ở cảng, làm cho năng suất tài xế giảm sút rõ rệt.

Nói cách khác, những rào cản chặn đường GDP tăng trưởng cũng sẽ làm nghẽn mạch năng suất lao động và đó mới là cảnh báo cụ thể hữu ích hơn nhiều lần so với cái mặc cảm tự ti Việt Nam thua cả Lào về năng suất lao động.

Một nhầm lẫn thứ ba dễ xảy ra khi thấy cách so sánh năng suất lao động là chuyện thu nhập. Thấy năng suất lao động Việt Nam tính theo sức mua tương đương chỉ có 9.894 USD trong khi của người lao động Singapore lên đến 141.343 USD, dễ kết luận lương của lao động Singapore chắc cao lắm, cao gấp 14 lần lao động Việt Nam!

Nhìn lại cái ví dụ chép kinh cho Đường Tăng, giá trị do ba người tạo ra khác xa nhau nhưng tiền thù lao cho ba người ắt hơn kém nhau không bao nhiêu vì với người thứ hai phải trừ tiền khấu hao chiếc máy tính; người thứ ba thì cả máy tính, máy scan lẫn máy in. Lao động Singapore tạo ra một giá trị gia tăng cao nhưng phải trừ tiền hoàn lại cho các khoản đầu tư trang thiết bị, máy móc; tiền bản quyền cho công nghệ… Thực tế cho thấy lương của một điều dưỡng bệnh viện Việt Nam thu nhập chừng 300 đến 500 đô-la mỗi tháng thì điều dưỡng ở Singapore cũng hơn chừng 3 lần là mức phổ biến.

Điều này không nói lên một hàm ý nào cả nhưng có một thực tế là mức lương ở Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi khi nhiều giới như kỹ sư công nghệ thông tin, quản lý doanh nghiệp có mức lương tăng vọt, gần như đuổi kịp các nước láng giềng trong khi nhiều giới khác như lao động phổ thông, nhà giáo, giới làm dịch vụ tự do thấy mức lương tăng không đáng kể. Trong khi GDP đầu người tăng đều và khá nhanh, thu nhập của những người thu gom rác ở các đô thị chẳng hạn, gần như bị đông cứng.

Năng suất lao động tăng nhanh nhưng thu nhập tăng chậm hơn thì chỉ có một khả năng xảy ra: chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn, bao nhiêu tiền xã hội làm ra rót về cho giới nhà giàu, hưởng lợi từ đầu tư vốn, đầu tư máy móc…

Chính vì thế, số liệu thống kê chính thức của Singapore cho thấy, thu nhập ở mức trung vị của người làm công ăn lương ở Singapore là 4.000 đô-la Singapore mỗi tháng. Sự khác biệt giữa năng suất lao động tính bình quân theo sức mua (141.343 đô-la Mỹ) và thu nhập trung vị (chừng 35.000 đô-la Mỹ) sẽ còn lớn hơn nữa trong tương lai khi robot và trí tuệ nhân tạo đảm nhiệm thêm nhiều phần việc hiện do con người làm. Lúc đó tiền làm ra cũng phải khấu hao cho robot, cho cả công tác nghiên cứu phát triển hiện nay để có cái trí tuệ nhân tạo trong tương lai nữa.

Trong khi đó với ví dụ chép kinh cho Đường Tăng, nếu người thứ nhì mua máy tính về nhưng chưa học sử dụng thì loay hoay cũng chịu, không phát huy được khoản đầu tư khá tốn kém. Nếu người thứ ba mua đủ loại máy, kể cả máy quét hiện đại mà bị nhũng nhiễu, đòi giấy phép nhập ở đâu, thỉnh thoảng phải đón đủ kiểu thanh tra xem dùng máy quét vào việc gì, có lẽ năng suất cũng chẳng tăng là bao. Vì thế các yếu tố như giáo dục, đào tạo, hiệu quả đầu tư và một môi trường kinh doanh thuận lợi còn quan trọng gấp bội lần chuyện cứ so sánh năng suất lao động với nước khác.



Box:

Ở Việt Nam, theo hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, năng suất lao động được đo bằng GDP tính bình quân một lao động trong thời kỳ tham chiếu, thường là một năm.
                                                          Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Năng suất lao động xã hội = -----------------------------------------------------------
                                                          Tổng số người làm việc bình quân


Thursday, January 11, 2018

Huyền thoại về “bẫy thu nhập trung bình”?

Có hay không cái “bẫy thu nhập trung bình”?

Chúng ta thường nghe các chuyên gia kinh tế nói nhiều về bẫy thu nhập trung bình, rằng không khéo nền kinh tế sẽ rơi vào chỗ mắc kẹt ở một mức thu nhập nào đó, không thoát được đến nỗi ai nấy đều tin có một cái bẫy như thế đang tồn tại, chực chờ. Các phát biểu này thường có ý tốt, cảnh báo các nhà làm chính sách không được chủ quan, không được thỏa mãn với hiện tại và đi kèm là những khuyến nghị hay giải pháp.

Tuy nhiên, tờ The Economist gây ngạc nhiên khi gần đây lại khẳng định không có bằng chứng gì trong thực tế về cái bẫy thu nhập trung bình. Trước đó cũng có nhiều nghiên cứu tựu trung cho rằng làm gì có cái bẫy thu nhập trung bình nào mà cảnh báo!

Trước hết hãy xem khái niệm bẫy thu nhập trung bình ra đời như thế nào. Năm 2004, tạp chí Foreign Affairs đăng bài “Toàn cầu hóa thiếu mất những nước trung bình” của GS Geoffrey Garrett, lúc đó đang dạy tại University of California, Los Angeles. 

Bài viết cho rằng các nước thu nhập trung bình bị mắc kẹt, một bên không cạnh tranh nổi với các nước giàu có công nghệ vượt trội, bên kia lại cũng thua các nước thu nhập thấp vì giá nhân công thấp. Vì thế trên các thị trường kết nối toàn cầu hóa, các nước trung bình này có tốc độ phát triển thua cả nước giàu lẫn nước nghèo.

Để minh họa, bài viết sắp xếp các nền kinh tế theo GDP đầu người vào năm 1980, rồi chia thành ba nhóm, giàu, trung bình và nghèo. Sau đó tác giả so sánh tốc độ phát triển của các nhóm trong vòng hai thập kỉ và phát hiện các nước trong nhóm trung bình thật sự phát triển chậm hơn so với hai nhóm còn lại. 

Ba năm sau, Homi Kharas và Indermit Gill thuộc Ngân hàng Thế giới trích dẫn bài này trong cuốn sách của họ rồi chế ra cụm từ “bẫy thu nhập trung bình” – khai sinh một khái niệm được nhiều nhà lãnh đạo các nước, rồi chuyên gia kinh tế sử dụng trong nhiều tình huống, nghe rất kêu, rất hình tượng.

Được biết đến nhiều nhất là Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc Lâu Kế Vĩ khi tuyên bố vào năm 2015 là Trung Quốc có 50% khả năng rơi vào bẫy thu nhập trung bình trong vòng năm đến 10 năm tới. Trong báo cáo Trung Quốc 2030 có một biểu đồ rất ấn tượng, giúp lan tỏa khái niệm bẫy thu nhập trung bình: nó cho thấy 101 nước được xem là có thu nhập trung bình vào năm 1960, chỉ có 13 nước thoát ra thành nước có thu nhập cao vào năm 2008, còn lại đều mắc kẹt trong ngưỡng trung bình suốt 50 năm.

Hai nghiên cứu khác của Barry Eichengreen trường University of California, Berkeley, Donghyun Park thuộc Ngân hàng Phát triển Á châu và Kwanho Shin trường Korea University cũng có những kết luận tương tự. Họ xem xét các nền kinh tế phát triển nhanh rồi sau đó chững lại (nhanh là với tốc độ tăng GDP bình quân đầu người trên 3,5% và chững lại là GDP bình quân đầu người tăng chậm hơn trước 2 điểm phần trăm, cả hai tính bình quân trên thời gian bảy năm). Nghiên cứu cho họ thấy việc chững lại này thường xảy ra khi GDP bình quân đầu người đạt mốc 11.000-15.000 đô-la Mỹ (tính theo cân bằng sức mua).

Như vậy khái niệm “bẫy thu nhập trung bình” không phải là chuyện giật gân theo kiểu báo chí mà có những nghiên cứu nghiêm túc hậu thuẫn. Vậy vì sao tờ Economist lại cái bẫy này chỉ là một dạng huyền thoại?

Trước tiên là lập luận các nước có thu nhập trung bình không cạnh tranh nổi với cả hai đầu: hoặc là công nghệ cao hoặc là lương thấp. Tuy nhiên thực tế các nước giàu phải dùng công nghệ cao để bù vào chỗ thua thiệt là chi phí tiền lương cho công nhân quá cao, ngược lại các nước nghèo bị buộc phải nhận đồng lương thấp để bù vào chỗ công nghệ của họ còn lạc hậu. Vậy, tại sao không lập luận các nước trung bình có thể cạnh tranh hơn hẳn cả hai đầu khi kết hợp mức lương vừa phải với công nghệ cũng vừa phải?

Hơn nữa làm gì có sự xếp hạng trung bình chung chung vì ngay trong một nước, sự cách biệt giữa các công ty hàng đầu với các công ty làng nhàng là rất lớn. Năng suất của 25% các doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ cao gần gấp 5 lần 25% các doanh nghiệp tốp dưới; chênh lệch này ở các nước đang phát triển còn cao hơn nhiều lần.

Cách các doanh nghiệp tự vươn lên để tăng năng suất cũng như các nước tìm cách tăng GDP đầu người. Cách thứ nhất là chuyển công nhân từ các lãnh vực thâm dụng lao động qua các nhà máy có năng suất cao hơn (tức chuyển dịch cơ cấu). Cách thứ nhì là đầu tư thêm máy móc cho mỗi công nhân (thâm dụng vốn). Cách thứ ba là khai thác vốn hay nhân công tốt hơn nhờ ứng dụng công nghệ sẵn có (đa dạng công nghệ). Các cuối cùng áp dụng những tiến bộ công nghệ mới xuất hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả (cách tân công nghệ).

Nói là bốn cách nhưng thật ra ở các nước, người ta kết hợp các phương cách này cùng lúc vì các nước không chờ đến khi nông dân dư thừa bỏ ruộng đồng ra thành thị thì mới đầu tư máy móc hay công nghệ. Họ cũng không chờ tích lũy vốn đến một mức nào đó mới cải tiến kỹ thuật sản xuất. 

Nói cách khác, không hề có các giai đoạn phát triển rõ ràng để nói một nước nhảy từ bực này lên bực khác, thoát hay mắc kẹt vì trong chính một nước, trình độ phát triển của các doanh nghiệp, các khu vực kinh tế là khác nhau, có doanh nghiệp dẫn đầu, có doanh nghiệp chững lại, không phụ thuộc vào chuyện thu nhập bình quân đầu người đang ở mức trung bình hay không.

Cụ thể hơn, tờ Economist phân tích vào từng nghiên cứu đằng sau khái niệm bẫy thu nhập trung bình. Số liệu thống kê trong nghiên cứu của Eichengreen, Park and Shin cho thấy đúng là tốc độ nhiều nước thu nhập trung bình bị chững lại thật nhưng nếu cũng dùng phương pháp đó để đo lường các nước thu nhập thấp thì sự chững lại này xảy ra cũng thường xuyên không kém. 

Còn các nước giàu ít khi có tốc độ phát triển cao hơn 3,5% nên làm gì có chuyện chững lại như định nghĩa của nghiên cứu (tốc độ tăng thấp hơn trước đến 2 điểm phần trăm). Việc chững lại cũng không ngăn cản các nền kinh tế sau đó vẫn giàu hẳn lên như Singapore, Hồng Kong, Đài Loan hay Hàn Quốc.

Thế còn biểu đồ 101 nước, chỉ có 13 nước thoát bẫy? Biểu đồ này định nghĩa một nước có thu nhập trung bình có GDP bình quân đầu nước (tính theo cân bằng sức mua) nằm giữa 5,2% và 42,75% GDP bình quân đầu người của nước Mỹ! Kể từ lúc giới thiệu biểu đồ vào năm 2012 đã có thêm 18 nước ra khỏi danh sách thu nhập trung bình do tăng trưởng hay do số liệu chính xác hơn.

Quan trọng hơn, biểu đồ có một sai sót căn bản: định nghĩa thu nhập trung bình như thế thì quá rộng nên không có ý nghĩa. Ví dụ một nước GDP đầu người chỉ bằng 590 đô-la (theo giá 1990) lại được xem là có thu nhập trung bình vào năm 1960 trong khi thực tế đây là nước nghèo. Ngược lại một nước có thu nhập GDP bình quân đầu người lên đến 13.300 đô-la năm 2008 vẫn được xem là nước trung bình dù nó cao hơn trường hợp “trung bình” ở trên đến 22 lần. Chẳng lạ gì nhiều nước bị mắc kẹt trong khoảng định nghĩa mênh mang này.

Riêng công trình nghiên cứu của GS Garrett, dẫn tới khái niệm bẫy thu nhập trung bình thì sao? Nếu thay vì chia ba nhóm nước theo tỷ lệ 25-45-30% khá kiên cưỡng của Garrett mà chia đều các nhóm, cộng với dữ liệu tốt hơn cho cùng 20 năm đó (1980-2000), người ta thấy cách biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm không còn nữa! Quan trọng hơn, các nước thu nhập trung bình lại có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trong hai thập niên từ 1990 đến 2010 cũng như từ 1995 đến 2015.

Một chuyên viên của Ngân hàng Thế giới có tham gia biên soạn tài liệu Trung Quốc 2030 sau này là đồng tác giả một công trình nghiên cứu bẫy thu nhập trung bình lại đi đến kết luận: Không có bằng chứng gì về việc chững lại bất thường khi đạt đến ngưỡng thu nhập trung bình. Các nghiên cứu khác của Ngân hàng Phát triển Á Châu, đại học Columbia và đặc biệt nghiên cứu của Lant Pritchett và Larry Summers, Đại học Harvard cũng tỏ vẻ nghi ngờ về bẫy thu nhập trung bình. 

Nhà kinh tế Robert Barro cũng của Đại học Harvard cho rằng khái niệm này không có thật, rằng chuyển biến từ thu nhập trung bình lên mức thu nhập cao là đầy thách thức nhưng mức độ thách thức cũng không có gì đặc biệt hơn khi chuyển từ thu nhập thấp lên thu nhập trung bình.

Nói tóm lại, có hay không có bẫy thu nhập trung bình đều được hỗ trợ bằng các lập luận và nghiên cứu. Nhưng dường như các nhà kinh tế nghiên về hướng cho rằng cái bẫy, tức các rào cản quá trình phát triển không phải do nước đó đang ở mức thu nhập trung bình mà xuất hiện. Rào cản là do các yếu tố khác làm việc áp dụng bốn con đường nâng năng suất nói trên bị nghẽn lại.

Trước đây người ta nói nhiều về bẫy thu nhập trung bình chỉ vì họ không có công thức gì cụ thể rõ ràng để áp dụng cho các nước có thu nhập trung bình. Bám vào chiến lược tăng trưởng cũ (như bám vào sản xuất thâm dụng lao động) cũng không ổn mà lao vào ứng dụng các chiến lược cao cấp như kiểu kinh tế tri thức, kinh tế số, cách mạng 4.0 cũng không xong. Vì thế báo The Economist kết luận, bẫy thu nhập trung bình thật ra là tình thế tiến thoái lưỡng nan của các nước có thu nhập trung bình.



Tuesday, January 2, 2018

Net Neutrality

Net không trung tính: thì xưa nay đã vậy

Thuở xưa không gian Internet chia làm hai thế giới, sống tách biệt, nước sông không phạm nước giếng. Một bên là các công ty cung cấp dịch vụ kết nối Internet như ở Việt Nam là VNPThay Viettel; ở Mỹ là AT&T hay Comcast và bên kia là các nơi cung cấp nội dung, ứng dụng và các dịch vụ khác như đủ loại báo chí, nơi lưu trữ phim ảnh, chia sẻ nhạc… Thế nhưng sự tách biệt này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.

Thoạt tiên, các công ty cung cấp dịch vụ kết nối Internet mà thông thường cũng là nơi cung cấp đường truyền điện thoại mới nhận ra các bên cung cấp ứng dụng trên Internet là đối thủ của chính họ trong nhiều trường hợp. 

Chẳng hạn, chắc nhiều người còn nhớ dịch vụ gọi điện trên nền tảng Internet (VoIP) mà nhiều nơi chào mời. Bạn là công ty điện thoại, sống nhờ khách chịu dùng điện thoại thông thường để liên lạc với nhau nay bỗng nhiên khách không chịu gọi như cũ nữa mà dùng đường truyền Internet cũng do chính bạn lắp đặt để liên lạc với nhau, khỏi tốn tiền, thông qua dịch vụ của một anh chàng nào đó cung cấp. Ai mà không tức.

Thế là các nơi cung cấp dịch vụ Internet bèn bắt đầu khóa van, chặn các dịch vụ Internet nào có khả năng ảnh hưởng đến doanh thu của họ như vụ Madison River Communication, một công ty điện thoại và kết nối Internet khóa chức năng VoIP trên đường truyền Internet của khách hàng và bị kiện. Có lúc AT&T hạn chế không cho khách hàng xài chức năng Facetime của Apple và cũng bị khiếu nại. 

Lúc đó, Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (FCC) bèn đề ra nguyên tắc Net trung tính (Net Neutrality), đại khái cho rằng khách hàng có quyền truy cập các nội dung trên Internet trên nguyên tắc bình đẳng, các nơi cung cấp dịch vụ không được chặn hay hạn chế đường truyền hay nói cách khác, phân biệt đối xử trên Internet, theo kiểu ai trả thêm tiền thì được ưu tiên.

Giả dụ không có nguyên tắc này, có lẽ các hãng điện thoại như AT&T đời nào cho khách hàng của mình xài Viber hay iMessage lúc đó mới ép họ xài dịch vụ tin nhắn truyền thống của mình. Thử tưởng tượng tình huống tương tự giả định xảy ra ở Việt Nam: các nhà mạng như Mobifone hay Vinaphone, nếu được quyền, ắt sẽ vui sướng chặn các dịch vụ nhắn tin miễn phí qua nền tảng Internet như WhatsApp, Zalo hay Viber. Cứ nhìn doanh thu dịch vụ tin nhắn SMS của các nhà mạng tụt giảm như thế nào sẽ hình dung được ngay giả định này.

Sau đó hàng loạt vụ kiện khác diễn ra nhưng tình tiết thì ngày càng phức tạp vì lập luận hai bên đều có tình, có lýnhư Comcast bị kiện vì chặn không cho khách sử dụng chức năng chia sẻ các file qua giao thức BitTorrent. Lúc đó, giao thức chia sẻ tập tin thì hợp pháp nhưng người dùng lại tận dụng nó để chia sẻ các tập tin vi phạm bản quyền như phim ảnh mà dung lượng chia sẻ lại lớn, có lúc chiếm đến 35%-40% tổng lưu lượng của Internet. Người dùng bình thường bực mình vì băng thông bị chiếm để hàng xóm tải phim nên Comcast nói họ khóa hay hạn chế chia sẻ kiểu BitTorrent chỉ để bảo vệ sự công bằng cho khách hàng nói chung.

Sau đó đến lượt các công ty cung cấp dịch vụ Internet cũng nhảy ra làm nội dung, nói cho dễ hình dung VNPTvừa giúp khách hàng kết nối Internet vừa có báo Vietnamnet, FPT cũng có dịch vụ lưu trữ file, chia sẻ file… Ở Mỹ thì Comcast cũng làm chủ NBC Universal, AT&T đang mua lại Time Warner… Một nơi cung cấp đường truyền Internet cho khách hàng, bỗng thấy khách cứ dùng băng thông của mình để coi phim của Netflix trong khi mình cũng có dịch vụ coi phim trực tuyến mà không ai xài, ắt hẳn sẽ nghĩ ngay đến cách thức ép, ai muốn coi Netfix trên đường truyền của tôi thì trả thêm tiền, bằng không phải chịu tốc độ chậm.

Đó là cách thức báo chí đang trình bày vấn đề Net Neutrality để dẫn tới vấn đề thời sự làm nóng đề tài này: FCC nay dưới thời của Tổng thống Donald Trumpvừa mới quyết định dẹp bỏ sự trung tính của Internet hay nói cách khác các công ty cung cấp dịch vụ kết nối Internet từ nay muốn làm gì thì làm, muốn chặn địch thủ, ưu tiên cho gà nhà thì cứ việc, không ai cấm. Đó là lý do báo chí Mỹ đang phê phán quyết định của FCC như một cách thủ tiêu tính công bằng của Internet, từ nay chỉ còn các ông lớn chèn ép doanh nghiệp nhỏ, rằng nếu quyết định như FCC thì đã không có sự trổi dậy của các tên tuổi như Facebook, Google….

Thật ra, nói như vậy cũng không sòng phẳng cho lắm vì không lẽ FCC không hiểu được vấn đề báo chí nêu ra. Nhìn từ vai trò quản lý nhà nước thì lập luận mới của FCC là Internet không cần bàn tay can thiệp của chính phủ, Internet là một nơi tự do nên quyết định của họ tháo các ràng buộc mang tính quản lý cho Internet. Các vấn đề chặn đối thủ, ưu ái cho chính mình sẽ để cho thị trường quyết định, ai chơi xấu thì khách hàng sẽ bỏ đi; nhiệm vụ của FCC là bảo đảm sự minh bạch, ai chặn, khóa van hay ưu ái thì phải nói rõ cho khách hàng biết. 

Chính vì vậy FCC đã chuyển giao việc giám sát cạnh tranh công bằng cho Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC), là nơi có chuyên môn cũng như các quy định chặt hơn về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống độc quyền. FCC lập luận bỏ quy định về sự trung tính của Internet thì mới tạo động lực cho các nơi cung cấp dịch vụ kết nối đầu tư nâng cao chất lượng để giành khách hàng về cho mình.

Tranh cãi ầm ĩ trên công luận là thế chứ thật ra Internet đã mất tính công bằng từ lâu chứ đâu đợi đến bây giờ. Thế giới Internet hiện nay bị chi phối bởi vài ba tên tuổi lớn như Apple, Amazon, Facebook hay Google. Họ có tiền, có lực để đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu ở khắp nơi trên thế giới nên dù nhà mạng có khóa hay ưu ái gì gì đi nữa họ vẫn chiếm phần tiện nghi trong mọi phương diện. Thậm chí cả Facebook lẫn Google đều có những dự án cung cấp kết nối Internet miễn phí cho toàn cầu, miễn sao mọi người cứ vào dùng dịch vụ của họ. Apple và Google hiện đang kiểm soát ai muốn đưa một ứng dụng nào lên hai hệ điều hành iOS và Android đều phải thông qua họ; họ không chịu thì dễ gì phân phối ứng dụng đến tay người dùng.

Ở Việt Nam chẳng hạn, không có vấn đề Net Neutrality nhưng Facebook hay Google vẫn chiếm thế thượng phong. Facebook thì liên kết với các nhà mạng để bất kỳ ai, dù không có 3G vẫn có thể truy cập Facebook dễ dàng. Google thì thuê máy chủ của chính các nơi cung cấp dịch vụ kết nối Internet, kể cả cho dịch vụ YouTube của mình. Thế nên mỗi khi đường truyền Internet quốc tế bị cắt vì đứt cáp quang, Facebook hay Google vẫn chạy vù vù.

Nay, sau vụ Net mất sự trung tính, vẫn chẳng có gì đột biến xảy ra. Các nhà mạng lớn như AT&T, Verizon hay Comcast không dại gì một sớm một chiều thay đổi chính sách ứng xử với khách hàng như bóp băng thông dùng cho dịch vụ của đối thủ vì quá lộ liễu và dễ bị kiện. Dần dần sự không trung tính của Internet sẽ được tô đậm mà khách hàng có lẽ cũng chẳng sẽ phản đối. Ấy là bởi họ đã được điều kiện hóa để làm quen với sự bất bình đẳng này rồi. 

Giờ họ vào Amazon mua hàng nhanh như gió đã quen nên chẳng mất thời giờ vào các nơi bán hàng khác tương tự như Amazon nhưng không tên tuổi, không đủ lực để đầu tư như Amazon. Và dĩ nhiên ví dụ AT&T cho khách hàng mua gói kết nối Internet của mình được thêm dịch vụ coi truyền hình miễn phí DirecTV thì ai lại không thích. Hiện nay T-Mobile đã cho các ứng dụng YouTube hay Netflix chạy trên miễn cước trên mạng của họ; tức họ lấy tiền của các nơi này chứ không thu tiền của khách hàng, ắt ai nấy đều hài lòng.

Vụ Net Neutrality, xét cho cùng, chỉ là một vụ bị chính trị hóa nhiều hơn là một tranh cãi về công nghệ. Hiện nay chính trường Mỹ đang lật ngược lại những gì Tổng thống Obama từng làm như bỏ đạo luật Obamacare và nay là Net Neutrality. 

FCC gồm năm người, ba ủy viên theo đảng Cộng hòa, hai ủy viên thuộc đảng Dân chủ. Ajit Pai, chủ tịch FCC do Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm là người từng phản đối Net Neutrality dưới thời Obama khi ông ta là ủy viên thiểu số,nay là lá phiếu quyết định lật ngược thế cờ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi quyết định của FCC trong tuần rồi được thông qua với ba phiếu thuận, hai phiếu chống.Có lẽ sau này khi thời thế thay đổi vấn đề Net Neutrality lại được xới lên với những lá phiếu mới.



Wednesday, December 13, 2017

Vòng kim cô Facebook

Nhảy khỏi vòng kềm tỏa của Facebook

Một hôm có chàng trai buồn bã đến gặp vị thiền sư, nói: “Thưa thầy, không biết vì sao dạo này tâm con bất định, suy nghĩ mông lung, không dứt khoát được chuyện gì?” Thiền sư bèn đưa tay giật lấy chiếc điện thoại trong tay chàng trai, chưa kịp nói gì thì chàng trai đã nhanh nhẩu thốt lên, như thể ngộ ra: “Thưa thầy con hiểu rồi. Ý thầy nói con nên dùng Google để tìm hết mọi chân lý cuộc đời chứ gì!” Thiền sư lắc đầu đáp: “Không, con. Ta chỉ muốn bảo con về tháo gỡ ứng dụng Facebook đi mới mong tìm được sự thanh thản và minh triết”.

Gạt bỏ chuyện chọc cười sang một bên, rõ ràng hiện nay nhiều người bỏ ra nhiều giờ cho Facebook nhưng chưa hiểu gì mấy về cơ chế hoạt động của nó. Nếu bắt chước lối nói gây sốc của nhà sử học Yuval Harari, cũng có thể khái quát, rằng mọi người không phải đang “chơi” Facebook mà Facebook đang biến mọi người thành nô lệ, quần quật làm công không lương cho nó!

Yaval Harari, tác giả cuốn Sapiens, Lược sử loài người thì kiêu khích, rằng đâu phải con người thuần hóa cây lúa mì; đúng ra cây lúa mì thuần hóa con người. Chứ gì nữa: lúa mì bắt nhân loại lao động miệt mài để chăm sóc nó, nhổ cỏ, bón phân, tưới nước; thậm chí sống quần cư quanh lúa mì để suốt đời phụng sự cho nó.

Chúng ta thì tự hỏi, Facebook có chút giá trị nào không khi không có ai thèm viết các dòng trạng thái rồi vào đọc tin tức của bạn bè, nhấn thích, nhấn chia sẻ… Cái giá trị mấy chục tỷ đô-la của Facebook là nhờ cả hai tỷ người đang miệt mài viết cho nó, biến nó thành cơ thể sống mà họ là các tế bào nhiệt tình nhất. Và trong quá trình đó, Facebook đang tác động đến con người ở nhiều góc cạnh không ai ngờ đến.

Nhốt con người trong những bong bóng ngăn cách vô hình

Ai cũng bảo, ưu điểm lớn nhất của Facebook là kết nối mọi người, bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào. Có đúng thế không khi cơ chế hoạt động của Facebook dần dần sàng lọc để chỉ còn những nhóm cùng suy nghĩ, cùng quan điểm chơi với nhau. Câu dọa thường thấy nhất là, đừng nói bậy, bị block (chặn) giờ. Riết rồi trong danh sách bạn bè của một người không còn bóng dáng của người “bất đồng chính kiến”, chỉ còn những kẻ “đồng thanh tương ứng”, thật lòng hay miễn cưỡng.

Đó là do người dùng chọn lựa nhưng quan trọng hơn Facebook có những thuật toán rất tinh vi. Nếu để yên không sàng lọc, không người nào hàng ngày có thể đọc hết những gì bạn bè viết hay chia sẻ trên Facebook.Sàng lọc thì phải sắp xếp ưu tiên để làm biên tập viên vô hình cho người dùng. 

Thế là, thấy người dùng thích gì, chia sẻ gì vài lần là sau đó Facebook sẽ bày mâm bày bát chủ yếu các món tương tự cho họ, ưu tiên cho cái gì vui vui, hấp dẫn, bắt mắt, không cãi cọ. Vì thế người thích tiệc tùng sẽ thấy toàn các chia sẻ ăn chơi, người thích du lịch sẽ thấy nhiều chia sẻ về thắng cảnh, người thích chính trị sẽ thấy toàn các dòng trạng thái đầy trăn trở trước mọi chuyển biến của xã hội. Và dần dà cái thế giới của Facebook mênh mông như thế nhưng lại gồm vô số các bong bóng đóng khung người dùng, nhốt họ trong đó, với cái thế giới của riêng họ.

Thoạt đầu nhiều người hy vọng nền tảng Facebook sẽ mở rộng tầm nhìn cho họ, giúp họ tiếp xúc với các quan điểm khác nhau, cọ xát với những lập luận đối chọi. Thực tế việc tranh luận lành mạnh trên không gian Facebook gần như là không thể, tất cả phải nhường bước cho sự cả vú lấp miệng em vì trên đó cũng có những kẻ chuyên gây hấn, những kẻ hà dùa, những người to miệng thích bắt nạt kẻ yếu hơn, y như trong đời thật, lại không có những ràng buộc mà nền văn minh nhân loại dày công dựng nên để chi phối ứng xử của con người với nhau.

Cái hại lớn nhất của Facebook, vì thế, là củng cố thiên kiến của mọi người một cách rất tinh vi vì cứ tưởng ai ai trên thế gian này cũng suy nghĩ như mình. Hay nói cách khác, Facebook cho bạn thấy cái bạn muốn thấy, thích đọc chứ không phải cái bạn nên thấy, nên đọc.

Thật giả lẫn lộn

Tin giả thời nào cũng có nhưng Facebook là mảnh đất màu mỡ cho tin giả lan tràn. Trước đây những người cổ xúy cho thế giới phẳng thường ca tụng các nền tảng như Yahoo 360° hay Facebook giúp trao quyền cho cá nhân để một người bình thường có tiếng nói ngang bằng các tờ báo lâu đời khác. Nhìn từ góc độ từng cá nhân như vậy thì quá đúng nhưng nhìn từ góc độ người tiếp nhận thông tin thì sao? Các tờ báo có uy tín, đáng tin cậy không bao giờ khinh suất đăng bậy một tin chưa kiểm chứng nhưng từng cá nhân thì lúc nào cũng sẵn sàng đăng các dòng trạng thái được càng nhiều người đọc càng tốt. Có gì khoái hơn đăng vài câu mà hàng loạt người vào đọc, thích và chia sẻ, tin càng giật gân càng được chia sẻ nhiều.

Đó là cơ chế đẻ ra tin giả, tin bịa. Điều đáng buồn là bản năng con người giúp lan truyền loại tin giả này, ai cũng muốn có gì đó mới, lạ, độc, sốc để khoe với bạn bè. Ai cũng nghĩ nó vô hại vì đăng hôm nay, mai bị phát hiện sai thì xóa và lúc đó lại nghĩ mình chỉ là một cá nhân nhỏ xíu, đâu ai để ý.

Lâu dần tin tức của báo chí đàng hoàng, nghiêm túc, loại tin mà cả đội ngũ làm báo bỏ công bỏ sức ra để đem về cho người đọc lại không thu hút người đọc bằng các dòng trạng thái của từng cá nhân. Mỹ đang đau đầu vì tin giả tác động đến cả cuộc bầu cử tổng thống của họ; các nơi khác đau đầu vì tin giả từng phá hại thanh danh hay cả cuộc đời của nhiều cá nhân khác.

Theo tờ The Economist, Facebook thừa nhận trước và sau cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm ngoái, 146 triệu người dùng có thể đã đọc những thông tin sai lệch do phía Nga tung ra trên Facebook. Tờ này nhận định, thay vì đem lại sự khai sáng thì mạng xã hội lại làm lan truyền độc chất.

Ngày xưa thuyết âm mưu cũng tồn tại, kiểu như Mỹ chưa hề đặt chân lên mặt trăng hay người ngoài hành tinh đang sống giữa loài người nhưng chúng ít phổ biến. Ngày nay các tay bơm thổi cho các thuyết âm mưu xoa tay hứng khởi vì mỗi khi tung ra một thuyết mới là Facebook giúp họ chia sẻ, lan truyền chúng khắp nơi. Và một khi mạng xã hội lôi kéo đủ một lượng người nào đó chia sẻ thì báo chí chính thống phải nhảy vào, chứ đứng ngoài cuộc chơi lại mất thêm độc giả.

Kẻ phát hành báo chí không được mời

Hiện nay Facebook là kênh phát hành báo chí trực tuyến cực kỳ quan trọng. Các báo dù không muốn cũng phải thừa nhận vai trò phát hành này. Cuối năm 2013, theo lời kể của tờ The Atlantic, Facebook âm thầm thử nghiệm quảng bá cho các báo bằng cách dùng quảng cáo nội bộ lôi kéo người dùng “thích” các trang Facebook của một số báo nổi tiếng. Bỗng chốc lượng người dùng vào đọc các báo này tăng vọt mà không cần có động thái cải tiến nào cả. Các báo vừa thích vừa lo sợ, than, Facebook nó làm chủ chúng ta rồi. Theo bàn tán của giới báo chí Mỹ lúc đó, Facebook làm vậy để cạnh tranh với Twitter đang chiếm sự chú ý của báo chí.

Mới đây Facebook lại thử nghiệm khóa các dòng thông tin người dùng không cho các chia sẻ từ báo chí xuất hiện nữa; ai muốn hiện lên thì phải trả tiền. Thử nghiệm này mới chỉ tiến hành ở sáu nước nhưng kết quả đã gây lo ngại cho báo chí: lượng người đọc ở sáu nước này giảm sút nghiêm trọng. Theo nhiều khảo sát, trên 60% giới trẻ đọc tin tức là dựa vào giới thiệu của bạn bè trên Facebook; kết hợp với các loại hình như kết quả tìm kiếm trên Google, các nơi tổng hợp tin như Google News (ở Việt Nam như Báo Mới) thì số phận các báo xem như do người khác định đoạt. Gián tiếp nắm trong tay báo chí như thế, không lạ gì Facebook dễ dàng tác động vào mọi khía cạnh của đời sống mọi người mà họ không hề hay biết.

Sống chung với lũ

Dưới áp lực của người dùng Facebook phải đang điều chỉnh nhiều thứ như cố dẹp bỏ tin giả. Họ đã nhiều lần thay đổi các thuật toán điều chỉnh sự xuất hiện thông tin trên trang Facebook của người dùng. Facebook làm ra tiền nhờ vào người dùng nên bằng mọi giá họ phải giữ chân người dùng trên Facebook nhiều chừng nào tốt chừng đó. Vì thế, thay đổi gì thì thay đổi, ưu tiên của thuật toán Facebook là làm sao mọi thứ bày biện bắt mắt bạn, làm bạn không rời, cứ cuộn lên đọc tiếp. Cho nên đó vẫn sẽ là mảnh đất màu mỡ cho mọi tay chơi nghĩ ra đủ cách để điều khiển bạn một cách vô thức, dù chỉ để thuyết phục bạn mua hàng.

Vì vậy khó lòng chống chọi lại các ảnh hưởng không như ý của Facebook trừ phi xóa hẳn nó đi như lời khuyên của vị thiền sư kia. Còn vẫn dùng, cách tốt nhất là chủ động bắt Facebook bày mâm bày bát theo kiểu có lợi cho bạn như chọn theo dõi các nhóm có những hoạt động bạn quan tâm.Bấm thích một hội những người thích một loại xe gì đó có thể đem lại cho bạn những thông tin hữu ích hay bất ngờ về loại xe bạn cũng mê; bấm theo dõi một hội những người cùng chia sẻ một thú vui sưu tầm vật gì đó, bạn khỏi cần vào các diễn đàn khó theo dõi vì Facebook sẽ hiện thông tin lên cho bạn.

Hãy bấm thích thật nhiều cho các trang báo mà bạn tin tưởng vào uy tín để tận dụng thuật toán của Facebook. Sẽ đến lúc Facebook phải dán nhãn cho các nguồn thông tin đáng tin cậy, nguồn chưa kiểm chứng vì sẽ đến lúc các nước đòi hỏi Facebook chịu một phần trách nhiệm cho những thông tin đăng tải trên trang của họ như báo chí đang phải chịu trách nhiệm. Suy cho cùng Facebook là tờ báo khổng lồ mà phóng viên là hai tỷ người dùng; chỉ có điều vì họ làm không công nên Facebook phải chịu tốn tiền cho một bộ lọc để duy trì một độ tin cậy nhất định cho tờ báo khổng lồ đó; bằng không quy luật cuộc sống bắt phải đẻ ra một thứ khác để thay Facebook.



Thursday, December 7, 2017

Chuyện thuế Google, Facebook

Nói thêm lần cuối về chuyện thuế Facebook

Đến hẹn lại lên, cứ dăm bữa nửa tháng lại có một bài báo hay một ý kiến than trách chuyện các tập đoàn nước ngoài kinh doanh dịch vụ xuyên biên giới tại Việt Nam, tiền thì thu nhiều mà thuế không phải nộp đồng nào. Vấn đề là câu chuyện này không có gì mới, đã rộ lên mấy năm nay, vì sao đến nay vẫn chưa tìm ra cách hóa giải? Và có đúng là cơ quan thuế đang bó tay, không thu được thuế từ Facebook hay Google không?

Nhà nước đang nắm đằng cán

Nói đến nghĩa vụ thuế của Facebook hay Google thì trước hết phải xác định cho chính xác quy mô thị trường quảng cáo trực tuyến của Việt Nam. Theo số liệu của TS. Đinh Lê Đạt, một chuyên gia trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến, thì tổng doanh thu quảng cáo trực tuyến của thị trường Việt Nam năm 2014 là 216 triệu đô la Mỹ và năm 2015 ước tính 329 triệu đô la Mỹ. Trong đó phần bánh của hai gã khổng lồ Google và Facebook tăng chóng mặt, lên đến lần lượt 65 triệu và 80 triệu đô la Mỹ cho năm 2014; còn năm 2015 là 100 triệu cho Google và 140 triệu đô la Mỹ cho Facebook.

Nói cách khác, hai anh chàng này từ chỗ chỉ chiếm chừng 6% thị phần thì đến năm 2015 đã tăng vọt lên đến 73%! Giả thử số liệu này là chính xác thì năm 2015, ước tính doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam của Google và Facebook chừng trên 5.000 tỉ đồng và số thuế họ phải nộp chừng 500 tỉ đồng.

Trước khi nói đến biện pháp thu thuế, tưởng cũng nên nhắc lại nguyên tắc chống thất thu thuế: đó là thuế của người này là phần khấu trừ của người kia cho nên lúc nào cũng có một bên có động lực đòi bên kia minh bạch chuyện thuế. Nếu bạn được giao đi mua một món đồ gì đó cho cơ quan, ắt phòng tài vụ sẽ đòi bạn đem về cho họ hóa đơn đỏ, đó là bởi hóa đơn này là cơ sở để cơ quan bạn liệt kê chi phí được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên bán đã phát hành hóa đơn ra thì phải nộp thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế.

Đó là với hàng hóa hay dịch vụ trong nước với nhau. Với các dịch vụ giao dịch xuyên biên giới thì Nhà nước tìm cách nắm đằng cán, còn chặt chẽ hơn thế nữa. Theo quy định về thuế đối với nhà thầu nước ngoài thì bên mua dịch vụ từ Việt Nam “có trách nhiệm khấu trừ số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp... trước khi thanh toán cho nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài”. Như vậy một công ty, ví dụ Vinamilk dùng công cụ Google Adsense để quảng cáo trên hàng loạt ấn phẩm và trả tiền trực tiếp cho Google, khoản chi này đến khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp cho Vinamilk sẽ không được chấp nhận nếu Vinamilk trước đó không mạnh tay cộng thêm 5% thuế giá trị gia tăng và 5% thuế thu nhập doanh nghiệp vào hợp đồng để nộp thay cho Google vì Google chưa hiện diện tại đây.

Nói cách khác một khi Google hay Facebook chưa có sự hiện diện chính thức ở Việt Nam theo Luật Đầu tư thì nghĩa vụ thuế trực tiếp của họ đâu có đâu mà cứ nói họ trốn thuế! Nghĩa vụ thuế của họ đã gián tiếp chuyển sang cho những người mua dịch vụ của họ tại Việt Nam và ai cẩn thận sẽ cộng thêm khoản này trước khi chi trả cho Google (để sau này nộp cho cơ quan thuế), ai không cẩn thận sẽ phải chịu xem khoản chi đó là không hợp lệ, không được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. (Nên nhớ trong doanh thu mà Google hay Facebook nhận được từ thị trường Việt Nam, đâu phải họ hưởng trọn 100%? Với Google, đến 68% sẽ được chia cho các tờ báo hiển thị cái quảng cáo đó).

Đến đây có lẽ mọi người đã thấy vì sao báo chí thì cứ than, cơ quan thuế thì bình chân như vại. Bởi cứ như hiện nay đằng nào họ cũng thu được thuế, hoặc là thuế suất thu nhập doanh nghiệp (chủ yếu là 20-22%) trên 5.000 tỉ đồng hay thu trọn 500 tỉ đồng giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp mà người mua dịch vụ thu hộ.

Và thật tình mà nói, muốn “làm người lương thiện” thu thuế Google hay Facebook giùm cho Nhà nước cũng nhiêu khê lắm. Thanh toán tiền dịch vụ quảng cáo bằng thẻ tín dụng mang tên cá nhân là không được chấp nhận rồi. Hóa đơn chứng từ đầu vào mang tên cá nhân cũng không được kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Bộ chứng từ cần có để tính vào chi phí được khấu trừ gồm nào là “quy chế của đơn vị về việc mua các dịch vụ qua mạng”, “đề xuất bằng văn bản của bộ phận kinh doanh cần quảng cáo với cấp trên”, “báo cáo nghiệm thu”, “chứng từ thanh toán”, và quan trọng nhất “tờ khai và chứng từ nộp thuế nhà thầu nước ngoài”. Chẳng lạ gì trên các diễn đàn kế toán, rất nhiều người hoang mang không biết làm sao để hợp thức hóa các khoản chi cho Facebook hay Google, nói gì thu thuế giùm.

Thế còn các dịch vụ khác như Netflix hay Apple Music?

Với các dịch vụ mà người tiêu dùng đầu cuối là cá nhân thì khó lòng áp dụng chuyện bắt họ thu thuế nhà thầu giùm. Với các trường hợp này, phải xác định đòi thu thuế nhưng nhắm thu loại thuế nào là khả thi nhất? Bình thường nhiều người nghĩ đó là thuế thu nhập doanh nghiệp, tức làm ăn có lãi thì phải nộp thuế! Đừng hòng, chuyện thu thuế thu nhập doanh nghiệp các công ty cung ứng dịch vụ xuyên biên giới như Netflix hay Uber là chuyện xa vời - đa phần có thành lập pháp nhân ở Việt Nam đâu mà thu và nếu có, hầu như chắc chắn họ sẽ từ lỗ vừa đến lỗ lớn (xem thêm box).

Loại thuế Việt Nam, cũng như các nước khác, phải nhắm tới là thuế bán hàng, ở nước ngoài phổ biến tên gọi sales tax còn ở Việt Nam là thuế giá trị gia tăng. Sẽ có người nói ngay, đây là thuế gián thu, thực chất là người tiêu dùng nộp, doanh nghiệp chỉ thu hộ thôi. Thu thuế này thì chẳng khác nào thu thuế dân mình chứ đâu có đụng đến các doanh nghiệp đó?

Trong bối cảnh các doanh nghiệp nội địa cung ứng dịch vụ tương tự phải nộp thuế giá trị gia tăng mà doanh nghiệp nước ngoài không nộp thì tính bình đẳng nằm ở đâu, làm sao doanh nghiệp trong nước cạnh tranh cho lại. Dù biết đó là thuế gián thu nhưng thu được còn hơn không và doanh nghiệp muốn cạnh tranh phải chia sẻ gánh nặng thuế đó cho người tiêu dùng.

Có lẽ ít người biết tổng thu thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn nhiều so với tổng thu thuế giá trị gia tăng. Ví dụ theo dự toán ngân sách năm 2015 thì sắc thuế đầu thu 226.700 tỉ đồng trong khi sắc thuế sau thu đến 281.500 tỉ đồng.

Để thu thuế giá trị gia tăng Việt Nam cần theo chân các nước châu Âu xác định rõ các tập đoàn đa quốc gia khi cung ứng dịch vụ xuyên biên giới thì thuế sẽ thu theo vị trí địa lý của người tiêu dùng chứ không phải phụ thuộc vào nơi đóng trụ sở của các tập đoàn này. Ví dụ Anh thay đổi cách tính thuế theo hướng này từ đầu năm 2015 đối với các dịch vụ kỹ thuật số. Trước đây khi còn tính giá trị gia tăng theo vị trí của người bán, nhiều công ty dựng lên trụ sở ở Luxembourg để tránh mức thuế giá trị gia tăng, có khi cao đến 27% ở nhiều nước châu Âu khác.

Các doanh nghiệp lớn như Amazon đã thu thuế giá trị gia tăng trên sản phẩm và dịch vụ số bán ra, ví dụ thuế giá trị gia tăng cho các sách điện tử Kindle bán ở Thụy Điển phải cộng thêm 25% thuế trong khi bán cho người ở Pháp thì chỉ cộng thêm 5,5% thuế. Đáng tiếc trong danh sách mức thuế giá trị gia tăng cụ thể này không thấy có Việt Nam. Hóa đơn của Apple phát hành hiện cho dịch vụ nghe nhạc ở Việt Nam cũng không thấy dòng nào nói chuyện thuế cả. Có lẽ trong giai đoạn này đánh thuế giá trị gia tăng lên sách điện tử làm nó đắt đỏ hơn chưa hẳn là điều hay. Chứ còn với các doanh nghiệp như Amazon hay Netflix, chỉ cần gửi công văn chính thức yêu cầu họ phải giữ lại thuế giá trị gia tăng rồi chuyển nộp cho Chính phủ Việt Nam, chắc họ sẽ tuân thủ như đang tuân thủ với nhiều nước khác trên thế giới. Xét cho cùng họ đâu mất thêm gì đâu, ngoài việc khách hàng của họ than trời chuyện thuế khóa!


Riêng chuyện Facebook và Google cùng nhiều tên tuổi lớn khác đang bị chê trách vì trốn tránh đóng thuế ở các nước họ hoạt động chính thức lại là một đề tài khác. Ví dụ báo chí đầu năm 2016 tràn ngập tin Facebook chỉ đóng vỏn vẹn 122 triệu đô la tiền thuế mặc dù lợi nhuận lên đến 3,4 tỉ đô la, tức chỉ chịu thuế suất 3,6%. Nhân đó báo chí Anh nhắc lại năm 2014 Facebook ghi nhận doanh thu đến gần 1 tỉ bảng nhưng chỉ nộp chừng 6.000 bảng tiền thuế!

Tuesday, November 28, 2017

Thương mại toàn cầu đang biến đổi:

Chuyển đi rồi lại chuyển về

Nếu xem cốt truyện các cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng là một chỉ dấu cho tương lai thật thì có lẽ nền sản xuất kiểu mới chỉ dựa vào công nghệ in 3D sẽ đến trong một ngày không xa. Khá nhiều cuốn khoa học viễn tưởng đặt bối cảnh trong tương lai gần đã miêu tả cặn kẽ chuyện in 3D để làm ra hầu hết mọi thứ nhân loại cần, từ tàu vũ trụ đến máy móc, từ cây kim sợi chỉ cho đến cả thế hệ máy in 3D đời sau!

Trong thực tế nền thương mại toàn cầu trong mấy chục năm trở lại đây dựa vào một nguyên lý: các nước chỉ làm ra những sản phẩm họ có lợi thế so sánh nhất, không chỉ để tiêu thụ trong nước mà còn xuất bán khắp thế giới; còn lại những sản phẩm họ không có lợi thế thì sẽ đi mua về dùng. Nay nền sản xuất của thế giới trải qua những thay đổi lớn, dù chưa đến mức dùng toàn máy in 3D, ắt thương mại toàn cầu sẽ thay đổi theo.

Lợi thế so sánh trước nay thường dựa vào các yếu tố như nhân công rẻ, nguyên liệu dồi dào; cộng thêm các yếu tố mang tính can thiệp như hàng rào thuế quan, chính sách bảo hộ để từ đó hình thành nên các công trường sản xuất hàng hóa cho cả thế giới mà Trung Quốc là một điển hình. Nhìn ở góc độ lợi ích quốc gia và lợi ích của các tập đoàn đa quốc gia thì sự “phân công lao động” kiểu đó, nơi có nước chuyên lắp ráp hàng hóa, đạp máy may làm ra áo quần, tiện ốc, đúc thép… có nước chuyên lo thiết kế, nghĩ ra mẫu mã mới rồi tiếp thị, bán hàng, là tận dụng được hết mức năng lực của mọi người trong dây chuyền sản xuất toàn cầu.

Nói vậy, không lẽ những thành viên trong nội các chính phủ Mỹ, kể cả Tổng thống Donald Trump không hiểu rõ, rằng cố duy trì một hai nhà máy lắp ráp máy lạnh, máy giặt ở lại nước Mỹ để duy trì việc làm cho một số người dân chẳng đem lại lợi ích gì to lớn cho nước Mỹ. Không lẽ họ không biết Appletổ chức sản xuất, lắp ráp iPhone ở Trung Quốc là có lợi nhất vì nhờ đó Apple đang hưởng phần bánh lớn nhất khi tính lợi nhuận từ chiếc iPhone đem về.

Thế nhưng nhìn từ góc độ từng cá nhân tham gia vào chuỗi toàn cầu hóa đó, sự “phân công lao động” như thế tước đi của họ quyền mưu sinh theo đúng khả năng của họ. Nhiều dân Mỹ chỉ thích làm cho nhà máy sản xuất thép; họ đâu muốn “vươn lên” ngồi làm việc bàn giấy,tìm thị trường mới cho ngành thép đâu. Chính vì góc nhìntheo số phận cá nhân này mà nền sản xuất hậu toàn cầu hóa đang có những thay đổilớn.

Một chuyện khác: máy in 3D thì chưa phổ biến như kiểu trong các cuốn khoa học viễn tưởng nhưng sử dụng robot trong sản xuất đã khá phổ biến. Chẳng mấy chốc, yếu tố nhân công giá rẻ không còn là ưu tư lớn nhất khi doanh nghiệp cân nhắc vị trí địa lý để đặt nhà máy nữa rồi. Yếu tố chi phí nhân công không quan trọng nhưng lại trở thành vũ khí hữu hiệu để thu phục nhân tâm nên trong thời gian tới chúng ta sẽ tiếp tục chứng kiến các lô-gích tương tự lô-gích “nước Mỹ trước hết” của Donald Trump.

Còn nhớ cách đây chừng chục năm, một từ thời thượng lúc đó là offshore thì nay từ này đã được thay thế bởi từ reshoring mang nghĩa trái ngược, miêu tả nỗ lực của nhiều doanh nghiệp di dời cơ sở sản xuất về lại cố quốc. Các trường hợp thành công được báo chí tô đậm, từ loại doanh nghiệp vừa như ET Water Systems đến doanh nghiệp lớn như General Electric, đã quyết định chuyển các dây chuyền sản xuất máy giặt, máy lạnh, máy sưởi từ Trung Quốc về lại Kentucky, Mỹ.

Bỗng nhiên người ta nhận ra, thương mại thế giới quanh các sản phẩm hữu hình không còn quan trọng như ngày trước. Từ đó ưu tiên trong đàm phán tự do hóa thương mại thế giới đã dịch chuyển: từ mua bán hàng hóa vật chất chuyển sang mua bán dịch vụ xuyên biên giới.

Thử nhìn các doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ, họ đang chào bán những gì? Đó là các loại công nghệ như với Facebook là công nghệ kết nối con người, Google là hàng loạt công nghệ nền tảng cho hoạt động của Internet, Microsoft là công nghệ phần mềm, Amazon là công nghệ lưu trữ trên mây… Trong phim ảnh thì có Netflix, trong âm nhạc trực tuyến có Apple Music… Loại hàng hóa này được cung cấp vô hình xuyên qua biên giới, nơi các rào cản về thuế chưa chín muồi, nhiều nước chưa biết ứng xử như thế nào cho phù hợp.

Lấy ví dụ trong một tương lai gần, Amazon từ Mỹ hay Alibaba từ Trung Quốc có thể chào mời một nền tảng hạ tầng bán lẻ mà các nhà bán lẻ trong nước khó lòng từ chối. Thử hình dung theo kiểu các doanh nghiệp này xây sẵn các ngôi chợ trực tuyến khổng lồ, các sạp hàng đầy đủ tiện ích, từ quảng bá, có sẵn khách mua đến phương tiện thanh toán dễ dàng tiện dụng, ai dám từ chối tham gia. Vì từ chối để tự mình xây chợ hay sạp tương tự thì khó lòng thành công. Vậy Amazon hay Alibaba không tốn nhân lực qua tận đây, không cần biết đến thủ tục xuất nhập khẩu, không cần sự hiện diện tại chỗ, vẫn tiến hành giao thương quốc tế thành công. Và đó là diện mạo của thương mại toàn cầu trong tương lai.

Thật ra hiện naychúng ta đã tham gia “nhiệt tình” từ sáng đến tối vào cuộc toàn cầu hóa kiểu mới này rồi, như xài Gmail của Google,nhắn tin bằng Viber,kết nối bằng Facebook để “tám chuyện” khắp nơi, nghe nhạc của Spotify, xem phim của Netflix, gọi điện kiểu video với Facetime, học tiếng Anh qua Duolingo… Tương tác kiểu đó với các dịch vụ do doanh nghiệp tận đâu đâu cung cấp nền tảng chiếm khá nhiều thời gian và công sức của chúng ta, còn hơn cả hình dung của bất kỳ nhà đàm phán nào từng đàm phán chuyện gia nhập WTO cách đây 10 năm!

Từ đó mới thấy ưu tiên cho chính sách thương mại tự do nay đã khác trước. Sẽ không còn quan trọng chuyện cắt giảm thuếthay vào đó là các hàng rào kỹ thuật mới, liên quan đến công nghệ số, đến chủ quyền số và thông tin người dùng. Sẽ không trông đợi gì nhiều việc kèm đầu tư nước ngoài FDI vào gói đàm phán vì các yếu tố thu hút đầu tư đã khác trước, không còn chỉ dựa vào công nhân hay thuế. Sở hữu trí tuệ, nền tảng của các công nghệ chào bán, sẽ chiếm phần quan trọng và sẽ được bảo vệ nghiêm nhặt hơn bao giờ hết.

Lấy ví dụ Trung Quốc, với tầm nhìn 10 năm tới, mong muốn đóng vai trò quan trọng trong công nghệ sản xuất ô tô chạy điện, đã đàm phán, thúc dục, ép buộc, thuyết phục, nói chung là bằng mọi cách, lôi kéo sự tham gia của các hãng ô tô lớn trên thế giới vào quá trình này. Họ cũng làm vậy với các ngành khác như sản xuất rô-bốt, chip điện thoại thông minh, công nghệ trí tuệ nhân tạo trong một kế hoạch gọi là “Made in China – 2025”. Đó là họ đang chuẩn bị cho một tương lai khi Trung Quốc không còn đóng vai trò công trường sản xuất hàng hóa tiêu dùng bình thường cho thế giới nữa.

Hiện nay giao thương quốc tế của Việt Nam đang nằm trong tay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vì họ chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu. Đáng tiếc họ cũng chỉ mạnh trong loại hàng hóa vật chất chứ không phải loại hàng hóa vô hình nói ở trên. Điều đáng lo ngại là các thế mạnh làm nên lợi thế so sánh của Việt Nam đang bị bào mòn, kể cả lợi thế về công nhân. Không sớm thì muộn chúng ta sẽ chứng kiến sự đảo ngược theo xu hướng reshoring và, khác với công xưởng Trung Quốc, chúng ta chưa làm gì để tận dụng khoảng thời gian ít ỏi còn lại.

Chỉ còn lại một thế mạnh có thể khai thác: đó là xem Việt Nam như một thị trường đáng kể với sức mua ngày càng tăng. Cộng với nông sản, thủy sản là thứ thế giới dù theo toàn cầu hóa hay theo dân tộc chủ nghĩa vẫn phải cần dùng, hy vọng Việt Nam nhanh chóng tìm được cách mặc cả để vẫn có thể tham gia vòng toàn cầu hóa mới mà không quá thua thiệt.




Monday, October 30, 2017

Ép người quá đáng

Đừng ép xe gắn máy quá đáng

Tranh cãi quanh việc cấm hay không thể cấm xe gắn máy ở các đô thị lớn như Hà Nội hay TPHCM có thể kéo dài cả chục năm nữa vẫn chưa ngã ngũ vì một bên nhìn vào cái đích lý tưởng phải hướng đến và một bên dựa vào thực tế rất đặc biệt của Việt Nam để lập luận.

Tranh cãi thì cứ việc tranh cãi. Thế nhưng tại sao không đồng thời tìm một giải pháp khả dĩ để cải thiện tình hình giao thông dựa trên thực tế đường phố vì ít nhất vài chục năm nữa chúng ta vẫn phải sống với cái thực tế này.

Theo số liệu của Sở Giao thông vận tải TPHCM, tính đến nửa đầu năm 2017, tại thành phố hiện có hơn 640.000 xe hơi và hơn 7,3 triệu xe gắn máy, tức cứ hơn 10 xe gắn máy mới có chưa đầy 1 xe hơi. Thế mà cách ngành giao thông ứng xử với xe gắn máy cứ như thể thành phố này toàn là xe hơi, xe gắn máy chỉ lèo tèo dăm chiếc! Phải chăng cách ứng xử này, cách quản lý này là do sao chép các mô hình ở nước ngoài, nơi xe hơi chiếm đại đa số, xe gắn máy thật sự lèo tèo? Hay phải chăng đó là tư duy của những người suốt ngày ngồi trên ô tô rồi về bàn giấy vạch chiến lược quản lý? Dù vì lý do gì chăng nữa, cách quản lý trái cựa như thế là một trong những nguyên nhân gây ùn tắc hay làm cho tình trạng ùn tắc giao thông càng thêm trầm trọng.

Cứ thử đi trên các con đường nội thành như đường Pasteur, đoạn hay nghẽn cứng sau khi giao nhau với đường Lê Lợi, đường đã nhỏ, người ta lại vẽ vạch phân làn đường thật lớn cho ô tô, còn phần giành riêng cho xe gắn máy nhỏ xíu. Đã vậy đoạn này không có biển phân chia làn đường cho từng loại xe. Thế là ai chạy xe hơi còn chút lương tâm đành chịu nhích dần trên làn bên trái hay làn giữa. Những tay tài xế lái taxi thì bất cần chạy vô luôn làn trong cùng bên phải. Thử hỏi con đường Pasteur nhỏ xíu như thế mà ba chiếc ô tô dàn hàng ngang lừ lừ tiến, xe gắn máy biết chạy đường nào?

Ước gì quan chức ngành giao thông hôm nào đó ngồi xe gắn máy bị xe buýt, xe bán tải, hay xe taxi, xe Uber, xe Grab ép hết đường nhúc nhích mặc dù đã đi sát lề đường bên phải, họ sẽ hiểu không cần ai cấm, nếu có điều kiện ắt mọi người chạy xe gắn máy sẽ bỏ xe ở nhà cho bớt nỗi vất vả.

Vậy cách giải quyết là gì? Ngành giao thông phải dựng ngay bảng phân làn, xe hơi làn bên trái, xe gắn máy làn bên phải và làn giữa là làn hỗn hợp. Dựng xong phối hợp với với cảnh sát giao thông phạt thật nặng tay tài xế xe hơi nào lấn vào làn trong cùng. Người chạy xe gắn máy cũng phải biết cách phản ứng, không cho xe hơi nào chạy ẩu được di chuyển. Cái này đã có thực tế chứng minh sự hữu hiệu, đoạn đường trước khi lên cầu Kênh tẻ hướng về quận 1 phân làn không cho hai xe ô tô chạy song song lấn làn xe gắn máy hay đoạn Tôn Đức Thắng xoay vòng trước khi vào giao lộ với đường Nguyễn Hữu Cảnh cũng vậy – phạt nhiều, phạt nghiêm, cảnh ùn tắc ở hai đoạn này đã giảm hẳn.

Nhìn rộng ra cả thành phố, xin các quan chức ngành giao thông hãy đi rà soát lại, với một góc nhìn mới mẻ, rằng ở thành phố này hơn 10 xe gắn máy mới có một ô tô, để vẽ lại vạch phân làn, đừng ép xe gắn máy quá đáng, giành đường cho họ đi, ắt giao thông sẽ thông suốt hơn, xe gắn máy cũng sẽ ít tạt đầu ô tô hơn. Ở làn đường hỗn hợp, xe gắn máy phải được đối xử như xe hơi – tay lái xe hơi nào chạy sau xe gắn máy mà cứ bóp còi inh ỏi đòi nhường đường, chúng ta hãy phản ứng.

Một việc khác có thể làm ngay để cải thiện tình hình giao thông là tráng nhựa mặt đường cho ra đường. Cứ nhìn vào đường Hai Bà Trưng, những dấu tích đào bới, xẻ đường từ cả chục năm về trước lúc trên mặt đường lù lù các lô cốt rào chắn. Dự án thoát nước đã làm xong, lô cốt được dỡ bỏ nhưng mặt đường chỉ được vá víu, chằng chịt một cách thảm hại. Cộng với những lần xẻ đường quy mô nhỏ hơn để lắp đặt đường ống nước hay ngầm hóa cáp điện, nay mặt đường rỗ chằng rỗ chịt, chạy xe luôn bị mấp mô như cỡi thuyền lướt sóng. Có lẽ nhà quản lý, một lần nữa ngồi xe hơi đằm chắc nên không cảm thấy, xe hơi lại chạy ở giữa đường nơi ít bị đào bới nhất nên có thể vẫn êm ái cho người ngồi.

Cứ thử tưởng tượng một con đường đông đúc như Hai Bà Trưng được tráng nhựa phẳng lỳ, xe chạy êm ru thì tình hình giao thông sẽ được cải thiện thấy rõ. Không còn cảnh xe loạng choạng, xiên xẹo để tránh cái đường lằn của những lần lấp vội đường khác nhau. Không còn cảnh nước mưa đọng lại văng tung tóe buộc người lái xe phải chuyển hướng để tránh.

Toàn là những chuyện dễ làm và không cần tranh cãi!







So sánh năng suất kiểu… tào lao

So sánh năng suất kiểu… tào lao Mấy năm gần đây, năm nào cũng thế cuối năm sẽ thấy một loạt các bài báo giật tít so sánh năng suất lao ...